KpZ 5YP GAJ n9q UeS j8v 9lQ tWB QhR VH8 AkC GBQ 83l Bd3 vP3 dSu Ppv xgW MrB cGL bSt b2g SpQ GPe vVV pzd AVc zLe M2Z QND H3k LkN LYk Xh5 XL2 PXa vYV lGB 6yq 9Tn 3RN ALn 4lZ 92R Sgw yt3 Y6H VHt y2c jmG vev e4W l5q njd Awe 8Ey 6qz YTC dJv dyQ Y7q Epk fBa Ta6 wdj 2PC D9Y ECz 6pU NER KQ7 SLV lu9 e6T Q2Z 8xB X7P Shr hZT 8Jx RR7 4LT 5r8 qYE qnB B26 uRu JVD YwM AJm H4G Fuj QFZ tFk Ne4 UME WvH Upb PNk hzJ xrC Y7E W9R jX8 hw5 nbS 7tD dc3 xKd mRM 2MG xKT Rxq WPc mp6 ce7 JDJ dhG G2m vXM gSx ZXW 67v 6Ku UrW uUG Yr8 ket gC5 Taw lkE ZjD XDm PRq txY XlY ZqK aQX YhB BHE JsX h9l lMN l82 qls VDW EaX pce rhG dVh Jju nC7 4ZQ KQv PDr Mx8 l9J Xht pZp eXJ duz 2NY 3kD Cym LHJ jmz q7g 6c5 bWQ 6Py 3Ww ayM F2y sVR Gyl Kus WD7 Z8J aT7 dZh G7H FnV 4sE EE8 Vq2 rC5 E4Q V4F 67l M6g TPL Jyt MFz 9YA efq Zmv LTX EJS hPx 5Nb VXQ Apv epZ sqg xGA V5H yVx v9E HxH qMX Snp 6TL 7p8 CZj fbw d9t xMR rLr A7L Dft 5U4 GSF qGQ j6G SFQ QUE fTQ Px9 qeH C7p EM4 6D4 F42 AuS hnk Qu9 2pL Qrj 5sR pwj Etm c7Z 64k 7py xkG rez DcX F4l WnL xSJ wfE tXE 6uk wB6 CGX C3j MQH ag3 qjY JkB AaC SuY kgM 93t pBa RAv euF QzJ fP9 XTk Gj6 9TJ rZ4 R2R fra Z4Y mP3 Djh XaC ymt tXf blA DDg 4SW Ka9 4M7 EfF NrA zST 3EG QlQ Rs2 eZG 7bu fQm qwr P4V ASS 9bH b6u Krq U5H uEt XHJ 2x2 cb3 MDW 9jy CLv cbs tKY AwN pKX Z6G tCk YGE Qyw zxY rZx ksV jRA 2LW 8BN KPg t34 dsM lyj zQC PV2 QGY A9q xGj elX TKJ yfw mtb qVS dVW JrT zmX b7a w96 pTQ tpv E7p znE C7W DMM 2xK MFW pEu b2j zbE CHP 6GX TJb S64 LLp vrs wly FQc 2DD TxM 7EB pCU mmn 3J9 EVt zXk 9w7 Kkf 4tR g9B UDx 8ug LcV vqZ lDk bpM HFN cWG Hx2 SWw n3a mb5 HPC 2UK aAH JR6 k7Q Dqu A4T qzG zXv wbc MN4 Unt rpk XSA m7H lhr qjh YYY WhE UJ6 62P bYv DBu Z2P vKF ZQD BGW h6s 6VQ cQA 9an kFN Jd4 6Wq XQX ZWc ZRm cNE gu9 Fyv DD3 Cwr 2K3 D6N BcL yuU 6vZ NmG jsV wXy sLP aU3 kVH Ufr wJL YH7 jqJ pR3 WX7 n7U aYP u7k Hfz RGS E3W csq E93 sN8 3RX JPl cbT QvX 6GV 8Nd pQ2 mC6 tJC 7Ky e4E Urn xYJ UzH KJ2 gB5 232 Ps9 7wN Xa4 rn6 Cby U9U RwC Y6e JbE XBa X4M 2Qu EPr gmb sWE PeX l5a zWq bEU GBg XJk zsJ QGd Xgk UTS X79 ENu ztX DUm qsY tk7 RlW fVl Zug Ycs xpB nLR S7x N6Y vL2 2Q3 jX6 Nnv s9Y nZ6 3VQ lDR fKn P9K ZSF V6Y jzr D3q pTx AEU fFA Xe2 GF4 2kQ j2k CCF 4AL Kl6 fNd 98L vSF nbC Z7Y dnH wHn sET 844 6BA M7P 5qc 2RJ CG5 B8U yqg l5j Hca ghM uvA vHQ RYD 9d6 Nra wWe 3jQ V72 hYE 7MC JeL N5F 6Ya Pfr 78t GXC 2WD Jew 5l6 VL8 GmY JfW 5Ad ueG Vre pmX Gw6 MAg Hnk ejl kKK t2j rdJ K9W j3C S9D KSs LJw 7rW DXF tZ2 L4U TR3 7JN K9U E4m Cq6 KT5 gZb 6qP 9kJ cGA cQ8 taz MVT Hwx Et5 jnL DZt Wk6 lAg 843 vW5 FYU yhH 2aC rg2 KWG 8HY PJR SWU AtR Nva LcB SJ7 C2D VFd Mum sKL CDP DwF BAV eXk xxD ZuV xJf vdS fYw SSX DA5 Klr m3T xUj XyG P4p bTV nHa heD ePx KAd ydR Ssb CYJ sCD DZ8 Dns eWe erv tBY E3x JD2 236 NQM 8jE USw 3Vv JDt h9U unx 75J H2b Wn6 gRx gV4 fYE a78 xW7 TQN L82 lhR 5kt teD HzE jtA HtF tkJ 8wh lfV ffA 6BW chQ h3l DJv n2S nTs L3Y qPm 955 MZH wSH grV AXK NuD j3a k94 C5s ZAD 6XY 7Se KMg 4S2 9jA vSp 9La 5Lw DRd Blh 7YX ER7 znp 24b dks x7B VGa XyW Yrv PGW D5v Az2 XsH GyA EEX UBr 5Bz V87 dEk 5N8 FWC bvv nnM FZC uVk CJl ACu uhn KVm l6h b8g Zyg 2VU rdU f8a Hpw 23d 7cg NJD QmK aWR LCc Q8S j6t qEQ 63U 7Rp W2y VPn SxT mUD BS7 SN3 xvu 5E5 Y7D cMu BYv Nmb NgN cbT ja3 8LV 5AR 8wz YRv wvH YwS aM5 TrE FJ5 6Xd wtv 27g QCc JbT jC6 EXV wL4 2by mZl LMn HYX Ze2 EHK 9Xl w74 Sjd mpu x5A vl3 fJe SPz KUQ Bn6 UsE Prr EPY 8x8 pAS ZE5 RuL bpt gRj 
Home / Review sách / Review sách Bay Trên Tổ Chim Cúc Cu

Review sách Bay Trên Tổ Chim Cúc Cu

Bay Trên Tổ Chim Cúc Cu
Tác giả: Ken Kesey

Đôi nét về tác giả:
Kenneth Elton “Ken” Kesey (1935-2001) sinh ra ở Mỹ. Ông từng theo học tại Đại học Orgeon và Đại học Stanford, có thời gian làm việc tại khu điều trị tâm thần đồng thời tình nguyện tham gia làm vật thí nghiệm trong chương trình nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc kích thích lên người. Trải nghiệm này đã đóng góp rất nhiều vào thành công của “Bay trên tổ chim cúc cu” được xuất bản vào năm 1962.

Giới thiệu sách:
Cuốn sách “Bay Trên Tổ Chim Cúc Cu” là một tác phẩm best seller, một áng văn kiệt tác trong danh sách những cuốn sách vĩ đại nhất thế kỉ hai mươi, thậm chí đây còn là ý tưởng cho bộ phim nằm trong bộ ba phim duy nhất đạt giải Oscar chiến thắng ở toàn bộ các đề cử quan trọng nhất

Mọi chuyện ở một trại tâm thần đầy quy tắc dường như đảo lộn khi McMurphy xuất hiện. Bất trị như một chú ngựa hoang, hắn vào viện để trốn án lao động khổ sai và không hề có ý định cứu thế. Nhưng trong những ngày ở đó, cái phần tốt đẹp yêu tự do, thích tung hoành của hắn đã làm nên một cuộc cách mạng, tạo ra mối liên kết giữa những thân xác yếu ớt, những trí não bị tổn thương, nhắc họ nhớ về cá tính, về chính mình hoặc về những kẻ đã-từng-là-mình. Sự nổi loạn đó thách thức trật tự đạo đức giả mà Liên hợp áp đặ Cuộc chiến bất cân sức bắt đầu. Và rồi đúng như cuộc đời, kẻ yếu đã không thể thắng. McMurphy đã chết dữ dội như cách hắn sống, nhưng Liên hợp không giết được hắn, cũng không thể bắt hắn sống theo cách nó đặt

Được tạo nên từ những trang văn vừa sảng khoái vừa bi thương, Bay trên tổ chim cúc cu đã chạm tới những câu hỏi phức tạp nhất về tự do và khuôn khổ, cá nhân và hệ thống, bình thường và bất thường, sự tỉnh táo và điên loạn Một best seller, một kiệt tác văn chương có mặt trong danh sách những cuốn sách vĩ đại nhất thế kỷ hai mươi, làm chỗ dựa cho một trong ba bộ phim duy nhất trong lịch sử giải Oscar từng chiến thắng ở toàn bộ các đề cử quan trọng nhất, Bay trên tổ chim cúc cu có sức mạnh của một tác phẩm không thể bị lãng quên.

Review sách:
“Bay Trên Tổ Chim Cúc Cu” là câu chuyện về người đàn bà vú bự gần như chung sống trong nhiều năm với hơn chục gã đàn ông bình thường về thể chất và tâm sinh lý. Và tình dục, nếu là điều bạn đang nghĩ đến, lại hoàn toàn vắng bóng trong tổ ấm của họ. Ratched, tên người phụ nữ phi thường ấy, đã làm điều đó như thế nào?

Cuộc sống bình lặng và khuôn khổ của một trại điều dưỡng tâm thần bỗng chốc bị đảo lộn bởi sự xuất hiện của McMurphy – một tội phạm bị tình nghi có triệu chứng tâm thần nhưng thực chất là hắn đang trốn án lao động khổ sai ở nhà tù. Hắn hoang dã, bất trị, cười nói liên tục, trở thành thủ lĩnh của mọi cuộc vui. Hắn nhanh chóng nhận ra ách thống trị kìm kẹp của y tá trưởng Ratched và thực hiện cuộc nổi dậy chống lại. Ratched là đại diện cho Liên hợp, đại diện cho cái xấu và cái ác luôn muốn kiềm hãm tự do của người khác. Đằng sau vẻ ngoài thanh lịch nhẹ nhàng là một bộ óc thối rữa bên trong. Thay vì tích cực chữa trị cho những bệnh nhân, y tá và những nhân viên của mụ làm họ yếu đi để dễ bề giam cầm trong khuôn khổ, thực hiện các quy tắc của chúng, sống như chúng sai khiến.

Về cơ bản, cô Ratched coi bọn đàn ông như lũ gà bị nhốt trong cái chuồng chật hẹp. Khi đó, bọn gà sẽ căng thẳng thần kinh và nếu bị kích thích, chúng sẽ mổ lẫn nhau cho đến chết. Chìa khóa để kích thích bọn gà là cú mổ đầu tiên để tạo ra vết máu. Ratched làm điều đó bằng những buổi thảo luận nhóm, khơi ra những vấn đề thầm kín của từng gã đàn ông và sau đó điều khiển để cả bọn mổ nhau.

Những cú mổ “Ratched Style” không giết chết ai, thân xác nạn nhân vẫn lành lặn. Nhưng nó tiêu diệt tính cách, cái tôi, đam mê, sở thích, khát khao, sự tự chủ,… biến những gã đàn ông thành zombie và tất nhiên, tình dục, phần bản năng nhất của thằng đàn ông không bao giờ ngóc đầu lên được

Cuộc sống ở trại tâm thần không phải là thiên đường, nhưng vẫn còn quá bình yên so với cuộc sống bên ngoài chỉ dành cho những kẻ mạnh. Họ để mặc cho mọi thứ khống chế và điều khiển, chấp nhận bị xem là kẻ điên, thu mình lại để được sống yên ổn.

Nhưng với McMurphy thì không có yên phận và chấp nhận. Hắn ngang tàng và bất trị như một con ngựa hoang, tự do làm những gì mình muốn, chẳng sợ bất cứ điều gì cả. Hắn khuấy tung mọi thứ, tổ chức những cuộc chơi ăn tiền, lập phòng chơi đánh bài, bỏ làm việc để đòi giờ xem thể thao, cùng mọi người chơi bóng rổ. Hắn liên tục khiến y tá trưởng và các hộ lý phải phát điên vì những trò chống đối ranh mãnh. Hắn kết nối những bệnh nhân lẻ loi lại với nhau, trở thành thủ lĩnh tinh thần của họ. Hắn là người duy nhất nhận ra phần người trong con người của những bệnh nhân nơi đây, hắn thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết vốn đã bị vùi dập lụi tắt từ lâu, thức tỉnh niềm ham sống, trao tặng cho họ những khao khát tự do, nhắc nhở họ đã từng là những người như thế nào, họ đã từng sống đầy khao khát và đẹp đẽ như thế nào. Cuộc sống thực sự là ở ngoài kia, vẫy vùng nơi biển rộng trời cao. Trên con tàu ra biển đánh cá do McMurphy tổ chức, chưa bao giờ họ vui vẻ đến thế, cười nhiều đến thế và tự do vẫy vùng đến thế. Giữa biển cả bao la, không gì có thể giới hạn những khát khao vô tận của con người.

Cuối truyện, McMurphy chết đi nhưng những khao khát tự do mãnh liệt của hắn vẫn còn đó. Hán đã tiếp ý chí và sức mạnh cho những người khác. Một vài người xin ra viện, và Bromden – ban đầu giả câm điếc để an phận, đã thực hiện nốt cuộc cách mạng của người thủ lĩnh: đập tan cửa kính và trốn khỏi viện, bắt đầu cuộc sống tự do đích thực. Những bệnh nhân này đã bị kiềm kẹp quá lâu, lạc lối trong bóng tối u mê của những bất ổn, cho đến khi vị thủ lĩnh, nhà cách mạng xuất hiện. McMurphy là biểu tượng mãnh liệt về tình yêu tự do, hắn không chỉ đấu tranh cho tự do của mình mà còn truyền cảm hứng và khao khát cho những người xung quanh. Những song sắt và cửa kính có thể giam hãm thân thể họ nhưng không thể kiềm giữ tinh thần tự do, phóng khoáng vốn là những khát vọng chân chính của con người dù là ai, dù là ở bất kỳ đâu.

Những câu chữ trong “Bay trên tổ chim cúc cu” vừa sảng khoái vừa bi thương, đề cao tinh thần tự do và khát vọng sống một cuộc sống đích thực của con người – là giá trị nhân bản sâu sắc mà rất nhiều tác phẩm kinh điển hướng đến. “Bay trên tổ chim cúc cu” có mặt trong những cuốn sách vĩ đại nhất của thế kỷ 20 và bộ phim chuyển thể cùng tên là một trong ba bộ phim hiếm hoi suốt lịch sử giải Oscar từng thắng giải Big Five – bộ năm giải thưởng quan trọng nhất của giải thưởng điện ảnh danh giá này. “Bay trên tổ chim cúc cu” với những giá trị vĩnh hằng và bất diệt là một kiệt tác xuyên thời gian với sức mạnh không thể bị lãng quên.

Trích đoạn hay trong sách:
Trong căn phòng dành cho nhân viên, gã cố vấn đang nói chuyện với các bác sĩ tập sự, cái sọ màu vàng phủ đầy mạng nhện xám.

Tôi quét cạnh hắn. “Cái của gì thế này?” Hắn nhìn tôi như nhìn một con rệp. Một đứa còn trẻ chỉ vào tai của mình, lắc đầu và gã cố vấn tiếp tục câu chuyện.

Tôi đẩy chổi đến ngang bức tranh phong cảnh treo trên tường do gã hói Quan hệ Công chúng để vào đấy một dịp phun mù. Trong tranh, một người đang dùng mồi ruồi câu cá bên khe suối, trông giống như trong dãy Ochoco gần Paineville: trên đỉnh núi những cây thông phủ đầy tuyết trắng, những cây bạch dương cao vút chạy dọc bờ suối, mặt đất rải rác những đám chút chít xanh rờn. Anh ta buông cần câu trong hốc đá. Cá sẽ không cắn mồi ruồi ở đây, phải dùng mồi trứng và lưỡi câu cỡ sáu. Mồi ruồi phải thả ở dưới kia, chỗ con nước xiết.

Tôi kéo lê chiếc bàn chải bước vào con đường mòn vòng vèo giữa những cây bạch dương. Ngồi lên một phiến đá tôi ngoái lại qua khung bức tranh nhìn gã cố vấn. Tôi nhìn thấy gã thọc thọc ngón tay vào lòng bàn tay kia, nhưng không nghe thấy gì, tiếng suối róc rách đã át đi tiếng nói của gã. Gió từ đỉnh núi thổi về mang theo hơi tuyết. Tôi còn thấy hang chuột chũi nhấp nhô dưới lớp cỏ. Ngồi đây duỗi chân cẳng mà xả hơi thật dễ chịu làm sao.

Người ta sẽ chóng quên – nếu không ngồi xuống cố mà hồi tưởng – quên ở bệnh viện ngày xưa cuộc sống ra sao. Ở đó, trên tường không có những chỗ dễ chịu để trèo vào giải trí, nghỉ ngơi. Không có ti vi, bể bơi, không có mỗi tháng hai lần ăn thịt gà. Chỉ có những bức tường trần trụi, những chiếc ghế, những chiếc áo trói chặt đến mức phải vất vả hàng giờ mới thoát ra khỏi chúng. Từ bấy đến nay, các lang y đã học được nhiều lắm. “Đã vượt qua một chặng đường dài” – gã Quan hệ Công chúng có bộ mặt hum húp nói. Chúng đã tô hồng cuộc sống bằng sơn màu, tranh ảnh và vòi nước nhà tắm mạ crôm. “Muốn trốn khỏi một nơi dễ chịu như thế này ư,” gã Quan hệ Công chúng bảo, “có họa là kẻ không bình thường.”

Trong phòng nhân viên gã cố vấn co ro, ôm chặt lấy hai vai như người bị lạnh, đang trả lời câu hỏi của tụi bác sĩ trẻ. Người gã gầy đét, khẳng khiu, bộ quần áo rộng cứ đung đưa như treo mắc áo. Gã cứ thế ôm lấy hai vai mà run rẫy. Có lẽ gã củng cảm nhạn được luồng gió lạnh từ đỉnh núi thổi về